Hà Nội Thành Phố Anh Hùng, Thành Phố Vì Hòa bình. Năm 1999 được UNESCO Công Nhận "Thành Phố Vì Hòa Bình".
Lịch sử Thăng Long – Hà Nội về văn hóa, kiến trúc qua 5 giai đoạn chính : Lý, Trần, Lê sơ, Nguyễn và thời đại Hồ Chí Minh.
PHẦN 1. TRIỀU NHÀ LÝ(1009-1225)

Lý Thái Tổ (974-1028)
ĐỊNH ĐÔ THĂNG LONG
Lý Thái Tổ là người khởi dựng triều nhà Lý, tên của ông là Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp (Từ Sơn,Bắc Ninh). Mẹ là bà Phạm Thị, Khi lên ba tuổi, mẹ ông đem ông cho sư Lý Khánh Văn, trụ trì chùa Cổ Pháp làm con nuôi và được đặt tên là Lý Công Uẩn, Ông sinh năm Giáp Tuất(974). Tại chùa Tiên Sơn(An Phong, Bắc Ninh) ông được theo học thiền sư Vạn Hạnh và cũng từ đây đã có rất nhiều truyền thuyết khác nhau về thân thế của ông. Vốn có trí thông minh bẩm sinh, được nhập thân văn hoá ở một vùng đất văn minh, văn hiến lại được sự nuôi dạy của những vị cao tăng xuất chúng, Lý Công Uẩn thực sự là người con ưu tú của dân tộc.
Ông đã cùng triều Lý làm rạng danh nước Đại Việt, viết nên những trang sử dựng nước và giữ nước. Khi làm quan nhà Tiền Lê ông làm đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Khi Lê Long Đĩnh mất, Lý Công Uẩn ngoài 35 tuổi, vua kế tự Long Đinh còn nhỏ. Bấy giờ lòng nguời oán giận nhà Tiền Lê nên quan chi hậu là Đào Cam Mộc cùng các quan trong triều tôn Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế tức vua Thái Tổ nhà Lý. Vua Thái Tổ thấy Hoa Lư hẹp bèn rời đô về La Thành vào tháng 7 năm Thuận Thiên nguyên niên(1010). Khi đến La Thành,Thái Tổ nằm mộng thấy có rồng vàng bay lên liền đổi Đại La thành Thăng Long thành cũng chính là thủ đô Hà Nội ngày nay. Vua Thái Tổ chỉnh đốn việc cai trị, chia nuớc làm 24 lộ gọi Hoan Châu và Ái Châu làm Trại.
Từ triều nhà Lý, Thăng Long là kinh đô của cả nước, trải qua bao thăng trầm của lịch sử ngày nay thủ đô Hà Nội của chúng ta ngày một đổi mới, thực sự là linh hồn của người dân Việt Nam, là bộ mặt văn hoá của cả nước. Sự kiện Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long là một sự kiện quan trọng đánh dấu môt mốc son rực rỡ trong lịch sử nước nhà. Vua Lý Thái Tổ trị vì 19 năm thì mất, thọ 54 tuổi. Mùa đông, tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009), tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình), Lý Công Uẩn được lập làm vua, sáng lập Vương triều Lý (1009-1225), miếu hiệu là Thái Tổ.
Hoa Lư là kinh đô của nước Đại Cồ Việt dưới hai triều Đinh (968-979) và Tiền Lê (980-1009). Đó là một vùng núi non hiểm trở, thích hợp với yêu cầu quân sự của một chính quyền độc lập non trẻ còn phải đối phó với nhiều mối đe dọa của giặc ngoài, thù trong. Với địa thế "Tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ" (Tiến có thể đánh thắng, thoái có thể bảo vệ), rất lợi hại của Hoa Lư, Đinh Tiên Hoàng đã đánh bại các thế lực cát cứ địa phương, khôi phục và củng cố nền thống nhất quốc gia, triều Tiền Lê đã đập tan cuộc xâm lược lần thứ nhất của nhà Tống, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Như vậy trong vòng 41 năm (968-1009), kinh đô Hoa Lư xứng đáng với sự lựa chọn của Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành, đã hoàn thành vai trò lịch sử của một thủ đô tạm thời.
Nhưng khi bước vào đầu thế kỷ XI, những thành quả bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc, gắn liền với việc thống nhất quốc gia kể từ thời họ Khúc đến họ Ngô, Đinh, Tiền Lê, đã tạo điều kiện đưa đất nước ta, dân tộc ta bước vào một thời kỳ mới. Đó là thời kỳ xây dựng đất nước trên quy mô lớn, thời kỳ phục hưng toàn diện của dân tộc, đặc biệt trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa-xã hội.
Nhiệm vụ đó được đặt lên vai triều Lý, ngay từ khi mới thành lập. Lúc này, Hoa Lư với vị trí và địa thế của nó, không đáp ứng được vai trò kinh đô của triều đại, vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước. Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ, vị vua sáng nghiệp của triều Lý, đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của kinh đô đối với vận mạng của đất nước và vương triều.
Sử gia Ngô Thì Sĩ đã nhìn nhận việc dời đô của Lý Thái Tổ rất tinh tế và chí lý: "Đất Long Đỗ là nơi Cao Biền đóng đô ở đấy, núi Tản Viên chống vững một cõi, sông Phú Lương như hào trời sinh ra, ngàn dặm bằng phẳng trăm họ giàu có, phía tây thông với Sơn Tây, Tuyên Hưng, phía bắc thấu đến Ninh Sóc, Kinh Bắc. Miền đông nam thì vận chuyển bằng thuyền, miền Cần Xương thì liên lạc bằng trạm, là nơi trung tâm của nước, bốn phương chầu về, núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông, trước mặt là biển, địa thế hùng mạnh mà hiểm, rộng mà dài, có thể làm cho nơi vua ở hùng tráng, ngôi báu vững bền. Hình thế nước Việt thật không nơi nào hơn được nơi này... Lý Thái Tổ lên ngôi, chưa vội làm việc khác, mà trước tiên mưu tính việc định đô, đặt đỉnh, xét về sự quyết đoán sáng suốt, mưu kế anh hùng, thực những vua tầm thường không thể theo kịp". (Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên. Nxb KHXH, H. 1997, tr. 194).
Tên gọi Thăng Long chứa đựng một ý nghĩa lớn lao. Trước hết tên gọi Rồng bay (Thăng Long) vạch được khí thế mạnh mẽ vươn lên của kinh thành đất nước, của toàn dân tộc. Nhưng tên gọi "Rồng bay" còn thể hiện một khát vọng hòa bình, đời sống hạnh phúc, tự do của nhân dân Việt Nam thời bấy giờ... Hơn thế nữa, biểu tượng Rồng bay còn chứa đựng ý niệm thiêng liêng trở về cội nguồn Rồng - Tiên và mơ ước về nguồn nước, mưa thuận gió hòa của cư dân văn minh nông nghiệp trồng lúa nước.Năm 1010 đã được ghi vào lịch sử Hà Nội như một mốc lớn với hai sự kiện trọng đại: Định đô ở vùng Hà Nội và đặt tên thành Thăng Long. Và từ đó, Thăng Long đã vươn lên như Rồng bay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, xứng đáng là kinh đô của nước Đại Việt, là trung tâm chính trị-kinh tế-văn hóa lớn nhất của cả nước.
-BAN BỐ HÌNH THƯ
-BỘ LUẬT ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ
-XÂY DỰNG KINH THÀNH VÀ HOÀNG THÀNH
-THĂNG LONG-HÀ NỘI PHÁT TRIỂN RỰC RỠ 215 NĂM THỜI LÝ
Những Công Trình Tiêu Biểu Thời Lý:

Chùa Một Cột
Văn Miếu Quốc Tử Giám
Hoàng Thành Thăng Long- Điện Kính Thiên
Đền Quán Thánh
-------------------------------------------------------------------------------
PHẦN 2. TRIỀU NHÀ TRẦN (1225-1400)
Triều Trần trải qua 11 vị vua : Trần Thái Tông (1218-1258); Trần Thánh Tông(1258-1277); Trần Nhân Tông(1279-1293); Trần Anh Tông (1293-1314); Trần Minh Tông(1314-1329); Trần Hiến Tông(1319-1341); Trần Dụ Tông(1336-1369); Trần Nghệ Tông(1324-1372); Trần Duệ Tông(1372-1377); Trần Phế Đế (1377-1388); Trần Thuận Tông(1388-1398).
-VỊ VUA ĐẦU TIÊN TRẦN THÁI TÔNG
-VĂN HỌC CHỮ NÔM XUẤT HIỆN VÀ NHỮNG BỘ SỬ ĐẦU TIÊN CỦA DÂN TỘC RA ĐỜI
-PHẬT GIÁO THIỀN TÔNG PHÁT TRIỂN RỰC RỠ
Thăng Long đời Trần trải qua 175 năm lịch sử. Vậy diện mạo của Thăng Long dưới thời đại hào khí Đông A là gì? Có thể tóm tắt trong vài từ, đó là một Thăng Long văn trị rực rỡ và võ công oanh liệt.Thăng Long đời Trần là nơi sinh ra và hội tụ nhiều nhà văn hóa lớn của đất nước, mà tài năng và những công trình nghiên cứu, sáng tạo của họ đã góp phần làm phong phú và rực rỡ thêm đời sống văn hóa của kinh thành.
Như trên đã nói, đó là Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố làm thơ phú bằng chữ Nôm, đặt cơ sở cho sự ra đời của nền văn học tiếng Việt. Đó là những bậc anh hùng mà tràn đầy tính cách nghệ sĩ như: Trần Thái Tông, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung thượng sĩ, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh… là những tác giả tiêu biểu của dòng văn học yêu nước đầy khí phách anh hùng đời Trần…
Trong số những nhà văn hóa kiệt xuất của Thăng Long đời Trần, nổi lên tấm gương sáng ngời của một trí thức nho học. Đó là Chu văn An (1292-1370) quê ở thôn Văn, làng Quang Liệt (nay là xã Thanh Liệt, Thanh Trì).
Có một thời gian ông giữ chức Tư nghiệp Quốc tử giám của triều Trần. Nhưng rồi trước sự đồi bại của triều đình đời Trần Dụ Tông (1341-1369), ông dâng sớ xin chém bảy nịnh thần là những người có quyền thế, lại được vua yêu. Đó là Thất trảm sớ nổi tiếng của Chu Văn An. Vua Trần không chấp nhận, ông liền từ quan về sống cuộc đời ẩn dật, lấy hiệu là Tiều Ẩn (Người ở ẩn làm nghề hái củi), để tỏ rõ chí hướng của mình. Trước khi làm quan và sau khi từ quan, Chu Văn An vẫn làm nghề dạy học.
Cả cuộc đời dạy học không biết mệt mỏi, ông đã đào tạo cho đất nước nhiều học trò giỏi, trong đó có Phạm Sư Mạnh, Lê Quát… Chu Văn An là một nhà giáo dục lớn, một người thầy mẫu mực, đạo cao đức trọng rất cương trực và rất tiết tháo. Sau khi Chu Văn An qua đời, triều đình đã đưa bài vị của ông phối thờ trong Văn Miếu kinh đô Thăng Long. Đó là một sự biểu dương tài đức của một nhà giáo tiêu biểu của đất nước, một cách tôn vinh bậc Thái sơn – Bắc đẩu của làng Nho đất Việt, rất đáng ghi nhận-Kinh thành Thăng Long đời Trần, về cơ bản, không có gì khác lắm so với kinh thành thời Lý.
Ngoài việc xây dựng ở bên trong hoàng thành, nhà Trần trong 175 năm (1225-1400) tồn tại vừa trùng tu công trình cũ, vừa xây dựng mới một số công trình kiến trúc ở Thăng Long.

Phật Hoàng Trần Nhân Tông

Tu sửa và xây dựng thêm Văn Miếu

Hưng Đạo Đại Vương
----------------------------------------------------------------------
PHẦN 3. TRIỀU NHÀ LÊ SƠ (1428-1527)
Triều Lê Sơ Trải Qua 10 Đời Vua: Lê Thái Tổ (1428-1433); Lê Thái Tông (1434-1442); Lê Nhân Tông (1443-1459); Lê Thánh Tông (1460-1497); Lê Hiến Tông (1497-1504); Lê Túc Tông (1504); Lê Uy Mục (1505-1509); Lê Tương Dực (1510-1516); Lê Chiêu Tông(1516-1522); Lê Cung Hoàng(1522-1527).
-VỊ VUA ĐẦU TIÊN LÊ THÁI TỔ (Lê Lợi)(1428-1433).
-GIẢI PHÓNG ĐÔNG QUAN ( THĂNG LONG)
-XÂY DỰNG VÀ TU BỔ THÊM KINH THÀNH THĂNG LONG – ĐÔNG KINH
-TU TẠO VĂN MIẾU – QUỐC TỬ GIÁM VÀ DỰNG NHỮNG TẤM BIA TIẾN SĨ ĐẦU TIÊN
- TỔNG QUAN MỘT THẾ KỶ THỜI LÊ SƠ Ở THĂNG LONG:

Cao Biền được vua Đường Trung Tông phong làm An Nam Tiết Độ Sứ, sang đô hộ nước ta. Cao Biền là 1 nhân vật rất giỏi về khoa địa lý(Phong Thủy) nên trước khi đi sang nước ta nhậm chức, vua Đường Trung Tông đòi vào triều ủy thác sứ mệnh cho Cao Biền phải tìm các nơi thủy tú sơn kỳ trên đất nước ta, nơi nào có Long Mạch lớn, có huyệt kết tốt thì phải yểm phá, và lập bản tấu thư về cho vua Đường Trung Tông biết. Sau khi sang nước ta, Cao Biền vận dụng hết khả năng và thời gian đi khắp các nơi để tầm long điểm huyệt. Chính Cao Biền cũng không ngờ trên 1 đất nước nhỏ bé như nước ta lại có nhiều Long Mạch lưu tụ và khí thế sông núi ưu tú đến như vậy. Nên Cao Biền không viết tấu thư mà viết hẳn 1 cuốn sách tựa đề là “CAO BIỀN TẤU THƯ ĐỊA LÝ KIỂU TỰ” gởi về tấu trình. Mặt khác Cao Biền lại tìm cách trấn yểm và phá hủy những Long Mạch lớn, phát vương tướng có thể tạo nên những bậc tài giỏi. Mà sự nghiệp khả dĩ ảnh hưởng cho vương triều trong vấn đề nam tiến...
Trước khi yểm một kiểu đất nào Cao Biền thường phụ đồng để kiều các vị thần cai quản khu vực đó nhập vào đồng Nam và đồng Nữ sau đó mới ra yểm đất. Theo truyền thuyết Cao Biền có yểm một số ít đất lớn xong cũng bị thất bại trước nhiều vị thần linh, trong đó đáng kể nhất là Tản Viên Sơn Thần và Tô Lịch Giang Thần(Núi tản viên thuộc sơn tây-Hà Nội và sông Tô Lịch chảy qua Hà Nội ô cầu giấy). Đền Bạch Mã ở phố hàng buồm Hà Nội là đền thờ thần Long Đỗ là vị thần bảo hộ cho nhân dân Thăng Long được an cư lạc nghiệp, đây là vị thần rất thiêng, khiến Cao Biền cũng phải khiếp sợ và vị thần này cũng trợ giúp cho vua Lý Công Uẩn trong việc xây dựng thành Thăng long.
Trải qua Đường, Tống, đến đời nhà Minh có Trương Phụ, Mộc Thạch, và Hoàng Phúc là 3 danh tướng được Vua nhà Minh cho kéo quân sang Việt Nam, bề ngoài với danh nghĩa phò hậu Trần diệt Hồ nhưng bên trong còn mang theo một kế hoạch diệt chủng Người Việt và biến nước ta thành quận huyện của Người phương bắc. Kế hoạch này tỉ mỉ và thâm độc hơn nhưng kế hoạch tương tự mà Người phương bắc đã làm từ thời xưa đến giờ. Trong số 3 danh tướng triều Minh này thì Hoàng Phúc là Người rất giỏi địa lý, có mang theo tập "CAO BIỀN TẤU THƯ ĐỊA LÝ KIỂU TỰ" sang duyệt xét lại và định yểm nốt những đất lớn nào còn sót cho Việt Nam không thể còn có những thế hệ thịnh trị sản xuất ra được những nhân tài xuất chúng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,..., đã làm khó khăn cho cho các vương triều phương bắc, như thời đại Lý và Trần vừa qua.
May thay Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã khôn khéo và kiên trì lãnh đạo cuộc kháng Minh đến thành công sau 10 năm gian khổ, sau khi bắt sống được Hoàng Phúc ta thu được toàn bộ tài liệu của kế hoạch nêu trên trong đó có cả tập "CAO BIỀN TẤU THƯ ĐỊA LÝ KIỂU TỰ". Bây giờ tập sách này trở nên một tài liệu vô cùng quý giá cho ta trên nhiều phương diện: Sử Liệu, chính trị và địa lý.
1/ Khí là gì?
Theo lời Đức Phật dạy thì thể xác của tất cả các chúng sinh hữu tình đều được hình thành từ 4 chất cơ bản: đất, nước, lửa và gió thường gọi là “tứ đại”. Gió ở đây chính là Khí. Để hiểu được Khí đại thì chúng ta cần quan sát các hiện tượng của con người lúc sinh và lúc tử. Lúc ở trong bụng mẹ thì hài nhi chỉ có 3 đại là: đất, nước và lửa. Lúc hài nhi chui từ bụng mẹ ra thì Khí bắt đầu kết hợp với ba đại kia khiến cho nó cảm thấy khó chịu và phải bật khóc, đồng thời Khí “thổi” cho nó lớn lên trông thấy. Hẳn ai có mặt lúc hài nhi chào đời đều biết điều này. Tất nhiên đây là Hậu thiên khí còn Tiên thiên khí đã có khi hình thành thai nhi. Đến lúc chết thì Khí đại lại là thành phần phân ly đầu tiên khiến cho người hấp hối cử động khó khăn dần, rồi đến hỏa đại ra đi khiến thân thể lạnh dần, tiếp theo là thủy đại chảy ra khiến cho thân xác teo tóp rất nhanh và địa đại thì phân ly lâu hơn.
Vậy thì những bậc cao tăng đắc đạo sau khi hóa để lại nhục thân bất hoại như: Lục tổ Huệ Năng, Vô Hà Đại Sư… ở Trung Quốc và hai anh em thiền sư Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường… ở Việt Nam thì sao? Câu hỏi lớn này phải chăng chỉ có khoa học mới giải thích được? Có giải thích được hay không thì chúng ta cũng nhận thấy một điều: có quả vị “Niết bàn” bất sinh, bất diệt và giáo lý Đạo Phật đã đúng, ít nhất là đến thời điểm hiện nay như lựa chọn duy nhất về tôn giáo của nhà bác học Anh Xtanh. Khí thường vận hành khắp nơi trong cơ thể, thường được gọi là khí huyết và hình thành nên mạng lưới hệ thống kinh mạch, huyệt đạo và nơi khí ra vào cơ thể gọi là luân xa.
Vậy khí có vai trò gì? Rất nhiều nhưng có thể đề cập ở đây một số vai trò chính. Thứ nhất: Khí vận hành đều khắp trong cơ thể để điều phối và cung cấp năng lượng cho các bộ phận trong cơ thể họat động bình thường giống như mạng lưới điện phân bổ đều khắp trên một quốc gia. Chính vì vậy khi khí mất quân bình hoặc bị bế tắc thì sẽ sinh ra bệnh tật. Việc tìm cách quân bình và điều chỉnh cho khí huyết họat động bình thường là lĩnh vực nghiên cứu của Đông y. Điều đó giải thích vì sao chỉ cần châm cứu thôi mà có thể chữa được rất nhiều bệnh khó mà ngay cả Tây y cũng đang quay về Phương Đông để nghiên cứu vấn đề này. Thứ hai: Sinh khí trong cơ thể có vai trò thanh lọc và bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của các loại tà khí từ bên ngoài. Tà khí có nhiều loại và nhiều màu khác nhau, nhiều nhất là thấp khí mà ở xứ nhiệt đới hầu như ai cũng mắc phải. Các loại tà khí độc hơn thì có thể gây hại rất lớn như: nặng thì tử vong, liệt các chi, nhẹ thì cảm mà dân gian thường gọi là “trúng gió”. Chính vì vậy, một số thiền sư, khí công không cần châm cứu mà vẫn có thể chữa khỏi bệnh bằng cách trục tà. Thứ ba: Khí còn có vai trờ cung cấp thông tin. Nhờ những thông tin này mà các nhà ngoại cảm, khí công có thể “đọc” được nhiều điều về quá khứ, hiện tại và vị lai của ai đó không hề khó khăn.
Vậy làm thế nào để cảm nhận có khí trong cơ thể? Trừ những người có học các môn “Khí đạo” như: Thiền, Khí công, Yoga, Dưỡng sinh tâm thể… hoặc học Đông y, được châm cứu… thì đa số người bình thường không thể cảm nhận sự có mặt của khí. Rất đơn giản: chỉ cần lấy ngón tay của mình chỉ vào điểm giữa hai lông mày nơi huyệt Ấn đường thì ta sẽ cảm nhận được khí như thế nào vì huyệt ấn đường luôn mở để nội khí trao đổi với môi trường bên ngoài.
2/ Long mạch là gì?
Trái đất cũng có đời sống của riêng nó do có các luồng khí dương ở trên giáng xuống và khí âm ở dưới hướng lên, vận hành liên tục, khắp nơi tạo thành các hệ thống các Long mạch. Mỗi ngôi nhà cũng có Long mạch riêng liên hệ với Long mạch lớn hơn của vùng đó, nước đó… Long mạch có tác dụng cung cấp sinh khí, khống chế tà khí đảm bảo cho sự phát triển của muôn loài, muôn vật. Hiện nay, ở Việt Nam đã có người chế tạo được dụng cụ có thể đo được “tia đất”. Nếu phát triển đề tài này thì có thể đem lại ứng dụng rất lớn cho các lĩnh vực kiến trúc, xây dựng, khai mỏ và sinh hoạt…
3/ Mục đích Cao Biền trấn yểm Long mạch là gì?
Cao Biền cũng như rất nhiều người Phương Bắc thời kì đó đã, đang và sẽ có dã tâm muốn thôn tính Việt Nam. Một trong những cách bí mật và hiệu quả nhất là triệt hạ các long mạch lớn có nhiều vượng khí. Việc trấn yểm tại sông Tô Lịch cũng không nằm ngoài mục đích đó. Vì thành Đại La nằm ngay vị trí rốn rồng (Long Đỗ), nơi hội tụ của nhánh Thanh Long và nhiều nhánh long mạch nhỏ khác nên Cao Biền đã trấn, yểm rất quy mô. Vì đây là vị trí “địa linh” nên rất nhiều triều vua của Việt Nam chọn nơi đây để xây thành và đóng đô. Không chỉ trấn yểm bằng đạo bùa có kèm theo các đồng nam, đồng nữ mà còn chôn sống thêm rất nhiều người có kèm theo vật dụng cúng tế. Dã tâm rất rõ ràng là dùng đạo bùa + “nhân khí” để trấn, yểm long mạch và dùng người tế sống để bảo vệ trận đồ đó. Ngoài trận đồ đã bị phát hiện tại sông Tô Lịch hiện nay thì Cao Biền còn tiến hành trấn, yểm rất nhiều nơi dọc theo nhánh Thanh Long và các nhánh long mạch khác của Việt Nam.
4/ Điều gì khiến cho đạo bùa của Cao Biền phát huy hiệu lực suốt hơn 1.000 năm qua?
Câu hỏi này thú vị nhất và khó nhất từ trước đến nay. Hỏi thế khác nào hỏi “Tại sao Trái đất tự quay quanh trục của nó và quay quanh Mặt trời?”.
5/ Tại sao những người phá trận đồ trấn yểm đó gặp rắc rối?
Như trên đã đề cập thì đạo bùa này do những “vong hồn” được tế sống bảo vệ. Họ được chôn với nghi thức đặc biệt kèm theo đồ cúng tế đầy đủ. Chính vì thế họ đã tìm cách ngăn cản đội 12 phá vỡ đạo bùa.... Nếu đội 12 là những người “am hiểu” thì sự việc đã không gặp rắc rối.......
Phim tài liệu "Ngày Lịch Sử" do đạo diễn người Nga Vladimir Echourine ghi lại một cách sống động và chân thực trước, trong và sau ngày lịch sử 1/1/1955. Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập. Và cũng tại nơi đây, ngày 1/1/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ từ kháng chiến trở về ra mắt nhân dân thủ đô Hà Nội. "Thưa toàn thể đồng bào trong nước và ngoài nước, cùng toàn thể bộ đội, cán bộ và nhân viên, sau 8, 9 năm toàn quân và toàn dân ta kháng chiến gian khổ và anh dũng, chính nghĩa đã thắng lợi, chiến tranh đã chấm dứt, hòa bình đã lập lại, chính phủ đã lại về thủ đô", trích bài diễn văn của Bác.
Thăng Long - Đông Kinh bước vào thời Lê sơ bằng một võ công oanh liệt: dưới sự lãnh đạo của người Anh hùng dân tộc Lê Lợi, cùng cả nước đánh thắng bọn xâm lược nhà Minh tàn bạo. Những tên lính xâm lược nhà Minh cuối cùng cũng từ đây – Thăng Long - Đông Kinh – lẳng lặng cúp đuôi kéo về nước.
Mùa xuân năm Mậu Thân (1428) lịch sử ấy, khắp kinh thành Thăng Long - Đông Kinh vang lên giọng đọc sang sảng bài Bình Ngô đại cáo của các viên quan truyền lệnh do Lê Lợi sai phái. Những ngày Tết Nguyên đán năm Mậu Thân chắc chắn Thăng Long thật vui, thật đẹp, thật tự hào. Trên các đường phố Thăng Long bấy giờ chắc rằng tràn ngập hoa tươi và nụ cười.Bước vào thời kỳ Lê sơ độc lập tự chủ, tại mảnh đất Thăng Long được chứng kiến một sự kiện trọng đại, đầy ý nghĩa: Cảnh hoàng đế Lê Lợi thả thuyền, nhẹ bơi trên hồ Lục Thủy.
Bỗng Rùa thần hiện lên, nhà vua rút gươm báu trao lại cho vị sứ giả của Long vương. Cũng từ đó, hồ Lục Thủy (hồ Nước biếc) được mang tên mới hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm). Một cái tên nhiều ý nghĩa triết lý: Chiến tranh đã qua đi, hòa bình đã trở lại với kinh đô Thăng Long và quốc gia Đại Việt. Thời chiến trọng võ, thời bình sùng văn. Nói như vị hoàng đế – thi sĩ Lê Thánh Tông sau này là:Thiên Nam vạn cổ hà sơn tạiChính thị tu văn yển vũ niên.(Muôn thuở trời Nam núi sông còn mãiChính là lúc sửa sang việc văn, tạm ngừng việc võ).
Nhưng cả một thế kỷ Lê sơ, Thăng Long - Đông Kinh không phải chỉ được sống trong nụ cười, mà Thăng Long còn phải sống những ngày đầy nước mắt. Thăng Long cùng cả nước Đại Việt ngày ấy sao quên được: Ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442), Nguyễn Trãi với toàn gia tộc bị chết oan khốc. Một ngày đau thương nhất của Thăng Long - Đông Kinh thế kỷ XV!Nhưng rồi Nguyễn Trãi cũng được minh oan. Vua Lê Thánh Tông đã trả lại danh dự, trả lại lẽ phải cho người anh hùng – nghệ sĩ Ức Trai.
-Công trình và truyền thuyết gắn liền với Nhà Lê:

Hồ Hoàn Kiếm
Vua Lê Lợi Trả Gươm cho Rùa Thần
Bia Tiến sĩ xây dựng thời Lê
----------------------------------------------------------------------------------
PHẦN 4. TRIỀU NGUYỄN (1802-1945)
Triều Nguyễn trải qua 13 đời Vua: Gia Long(1802-1820); Minh Mạng(1820-1841); Thiệu Trị(1841-1847); Tự Đức(1847-1883); Dục Đức(1883); Hiệp Hòa(1883); Kiến Phúc(1883-1884); Hàm nghi(1884-1885); Đồng Khánh(1885-1889); Thành Thái(1889-1907); Duy Tân(1907-1916); Khải Định(1916-1925); Bảo Đại(1926-1945).
-CUỘC ĐÁNH CHIẾM BẮC THÀNH CỦA GIA LONG
-VIỆC XÂY THÀNH THĂNG LONG THỜI NGUYỄN
-TỔNG LUẬN VỀ 70 NĂM THĂNG LONG THỜI NGUYỄN:
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung.
(Nhà lớn từ hàng nghìn xưa, nay thành đường cái quan Một tấm thành mới làm lấp mất cung điện cũ).
Đấy là hai câu thơ trong bài Thăng Long của thi hào Nguyễn Du viết vào khoảng đầu thế kỷ XIX, khi Thăng Long mất đi vị trí là kinh đô của cả nước. Nỗi niềm hoài niệm, nuối tiếc ấy đâu chỉ của riêng tác giả Truyện Kiều khi đến với Thăng Long, mà của chung mọi người, kể cả một thi sĩ đất Thăng Long: Bà Huyện Thanh Quan.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Có lẽ, chúng ta phải đặt mình vào là một người dân đất Thăng Long - hoặc người dân của Bắc Hà thuở bấy giờ mới thấu hiểu nổi nỗi lòng của những con người từng yêu quý và tự hào về chốn kinh kỳ nghìn năm văn vật này, khi Thăng Long không còn là Đông Đô - Đông Kinh - Thượng Kinh nữa. Suốt cả thế kỷ XIX, Thăng Long không còn được giữ vai trò "chủ nhà" của các kỳ thi Hội - Hội tụ sĩ tử của cả nước - như suốt hơn 700 năm trước. Thăng Long mất đi những ngày hội tưng bừng được ngắm nhìn các vị tân khoa tiến sĩ "cưỡi ngựa xem hoa" dọc các con đường lớn của kinh kỳ. Cửa Đông Hoa thôi không treo bảng vàng ghi tên các vị đỗ Tiến sĩ nữa.
Văn Miếu kinh đô Thăng Long xưa bị hạ cấp thành Văn Miếu của tỉnh Hà Nội, ở đó không còn là nơi triều đình long trọng dựng các tấm bia đá ghi tên Tiến sĩ như thuở nào... Tuy nhiên, mảnh đất Thăng Long vẫn là nơi hội thụ khí thiêng sông núi, nơi sản sinh và cư trú của nhiều danh nho, danh sĩ lừng danh: Phạm Quý Thích, Vũ Tông Phan, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát... Chính Nguyễn Văn Siêu đã bằng tài trí và tâm hồn nghệ sĩ của mình đã tạo nên những công trình kiến trúc xinh xắn, đẹp đẽ, góp phần làm cho văn mạch, thi phong của Thăng Long - Hà Nội được giữ gìn và phát triển...
Dù cho không còn là kinh đô, nhưng Thăng Long ở thế kỷ XIX vẫn giữ được vị trí là một trung tâm kinh tế công thương nghiệp lớn của cả nước. Nhiều thương gia Hoa kiều và các nước phương Tây khi đến Việt Nam buôn bán hoặc lập nghiệp, thì cái đô thị gây cho họ sự chú ý đầu tiên là Thăng Long - Hà Nội, chứ không phải các đô thị khác...Cho nên, dù cho đã trở thành tỉnh thành của tỉnh Hà Nội, nhưng nói như Nguyễn Du, mảnh đất thiêng liêng này vào thế kỷ XIX "Đô thị Thăng Long cựu đế kinh" (Vẫn còn là Thăng Long chốn Đế kinh xưa).Và có thể nói rằng đối với người Hà Nội thời bấy giờ: Hà Nội vẫn là "Kinh đô trong tâm tưởng" của họ: "Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An".
-Một Số Công Trình Tiêu Biểu Thời Nguyễn :
Khuê Văn Các

Cầu Thê Húc

Cột Cờ

Tháp Bút
Đền Ngọc Sơn
--------------------------------------------------------------------------------------
PHẦN 5. THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH
-CUỘC NỔI DẬY CÁCH MẠNG 19/8/1945
-TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 2/9/1945
-GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ 10/10/1954
-CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG (Tháng 12/1972)
Đại Lộ Thăng Long

Bảo Tàng Hà Nội

Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh
----------------------------------------------------------------------------------------
PHẦN 6. KẾT LUẬN
Với bao biến đổi thăng trầm của lịch sử, Thăng Long xưa và Hà Nội nay vẫn luôn khẳng định là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá lớn của nước Việt Nam. Thăng Long - Hà Nội tới nay đã tròn ngàn năm tuổi. Trải qua nhiều triều đại, nơi đây đã tiếp nhận rất nhiều những giá trị tinh tuý văn hoá của mọi vùng miền đất nước và xa hơn nữa là của bạn bè quốc tế năm châu. Với bản lĩnh và những nét tài hoa của người Thăng Long - Hà Nội, nền văn hoá nơi đây đã nhân lên những điều hay, xoá đi những điều dở, tạo nên một nền văn hoá có bản sắc riêng đầy quyến rũ, đó là văn hoá “Tràng An". Không chỉ những người sống ở Hà Nội, hay những người yêu Thủ đô mới có tình cảm sâu sắc với Hà Nội, mà tất cả những ai đã từng đặt chân đến nơi đây, hoặc đã nghe kể về lịch sử, về những đặc điểm rất riêng của Hà Nội, cũng như đã từng tìm hiểu những nét hết sức tinh tế của con người Tràng an đều trân trọng những nét văn hoá đẹp đến xiêu lòng ở vùng đất Thăng Long.
Chính những nét đẹp văn hoá cùng với những chiến công hiển hách của Thăng Long - Hà Nội từ xưa đến nay, mà người Việt Nam mãi mãi không thể nào quên câu thơ đầy cảm xúc “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” của tướng quân Huỳnh Văn Nghệ đã đi vào tâm thức của mỗi người. Điều mà mỗi chúng ta chia sẻ cùng với tác giả là nỗi nhớ nhớ Hồ Gươm, nhớ tháp Rùa, tháp Bút, đó là những biểu tượng đặc trưng cho văn hóa và tâm linh của người Hà Nội. Không những thế, Thăng Long – Hà Nội từ ngàn năm nay đã sản sinh ra biết bao văn nhân, sĩ phu và nhân tài cho đất nước. Cho đến tận bây giờ, Hà Nội vẫn là nơi quy tụ những anh tài tuấn kiệt từ khắp bốn phương để cùng với nhân dân cả nước vững bước trên con đường hội nhập.
Có thể nói, Hà Nội với bao giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể quý giá mà các bậc tiền nhân để lại, xứng đáng là trung tâm văn hoá của Việt Nam. Thủ đô Hà Nội - trái tim của đất nước, thành phố vì hoà bình đã được biết đến với những tinh hoa được chắt lọc từ văn hoá ngàn năm, từ muôn phương kết tụ. Là đất Kinh đô ngàn năm văn hiến, văn hoá Hà Nội là nơi hội tụ và kết tinh biết bao những giá trị văn hoá tinh hoa của mọi miền Tổ quốc. Cùng với sự tiếp biến văn hoá của bốn phương, hệ thống di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của vùng đất này ngày càng được làm giàu thêm, làm cho văn hoá nơi đây càng thêm phong phú, đa dạng, nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hoá đất Tràng An. Tinh hoa văn hoá của đất Kinh kỳ được biểu hiện qua những di sản văn hoá, nó phản ánh một cách chân thực truyền thống sinh hoạt của người Thăng Long - Hà Nội xưa và nay.
NGUYỄN ĐÌNH THỌ

--------------------------------------------------------------------------------------


O--------O0O--------O0O----------O0O----------O
Sự Thật Về Cao Biền Và Trấn Yểm Đất Thăng Long Cao Biền được vua Đường Trung Tông phong làm An Nam Tiết Độ Sứ, sang đô hộ nước ta. Cao Biền là 1 nhân vật rất giỏi về khoa địa lý(Phong Thủy) nên trước khi đi sang nước ta nhậm chức, vua Đường Trung Tông đòi vào triều ủy thác sứ mệnh cho Cao Biền phải tìm các nơi thủy tú sơn kỳ trên đất nước ta, nơi nào có Long Mạch lớn, có huyệt kết tốt thì phải yểm phá, và lập bản tấu thư về cho vua Đường Trung Tông biết. Sau khi sang nước ta, Cao Biền vận dụng hết khả năng và thời gian đi khắp các nơi để tầm long điểm huyệt. Chính Cao Biền cũng không ngờ trên 1 đất nước nhỏ bé như nước ta lại có nhiều Long Mạch lưu tụ và khí thế sông núi ưu tú đến như vậy. Nên Cao Biền không viết tấu thư mà viết hẳn 1 cuốn sách tựa đề là “CAO BIỀN TẤU THƯ ĐỊA LÝ KIỂU TỰ” gởi về tấu trình. Mặt khác Cao Biền lại tìm cách trấn yểm và phá hủy những Long Mạch lớn, phát vương tướng có thể tạo nên những bậc tài giỏi. Mà sự nghiệp khả dĩ ảnh hưởng cho vương triều trong vấn đề nam tiến...
Trước khi yểm một kiểu đất nào Cao Biền thường phụ đồng để kiều các vị thần cai quản khu vực đó nhập vào đồng Nam và đồng Nữ sau đó mới ra yểm đất. Theo truyền thuyết Cao Biền có yểm một số ít đất lớn xong cũng bị thất bại trước nhiều vị thần linh, trong đó đáng kể nhất là Tản Viên Sơn Thần và Tô Lịch Giang Thần(Núi tản viên thuộc sơn tây-Hà Nội và sông Tô Lịch chảy qua Hà Nội ô cầu giấy). Đền Bạch Mã ở phố hàng buồm Hà Nội là đền thờ thần Long Đỗ là vị thần bảo hộ cho nhân dân Thăng Long được an cư lạc nghiệp, đây là vị thần rất thiêng, khiến Cao Biền cũng phải khiếp sợ và vị thần này cũng trợ giúp cho vua Lý Công Uẩn trong việc xây dựng thành Thăng long.
Trải qua Đường, Tống, đến đời nhà Minh có Trương Phụ, Mộc Thạch, và Hoàng Phúc là 3 danh tướng được Vua nhà Minh cho kéo quân sang Việt Nam, bề ngoài với danh nghĩa phò hậu Trần diệt Hồ nhưng bên trong còn mang theo một kế hoạch diệt chủng Người Việt và biến nước ta thành quận huyện của Người phương bắc. Kế hoạch này tỉ mỉ và thâm độc hơn nhưng kế hoạch tương tự mà Người phương bắc đã làm từ thời xưa đến giờ. Trong số 3 danh tướng triều Minh này thì Hoàng Phúc là Người rất giỏi địa lý, có mang theo tập "CAO BIỀN TẤU THƯ ĐỊA LÝ KIỂU TỰ" sang duyệt xét lại và định yểm nốt những đất lớn nào còn sót cho Việt Nam không thể còn có những thế hệ thịnh trị sản xuất ra được những nhân tài xuất chúng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,..., đã làm khó khăn cho cho các vương triều phương bắc, như thời đại Lý và Trần vừa qua.
May thay Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã khôn khéo và kiên trì lãnh đạo cuộc kháng Minh đến thành công sau 10 năm gian khổ, sau khi bắt sống được Hoàng Phúc ta thu được toàn bộ tài liệu của kế hoạch nêu trên trong đó có cả tập "CAO BIỀN TẤU THƯ ĐỊA LÝ KIỂU TỰ". Bây giờ tập sách này trở nên một tài liệu vô cùng quý giá cho ta trên nhiều phương diện: Sử Liệu, chính trị và địa lý.
O--------O0O--------O0O----------O0O----------O
Lý giải nhỏ qua truyện “Thánh vật ở Sông Tô Lịch” 1/ Khí là gì?
Theo lời Đức Phật dạy thì thể xác của tất cả các chúng sinh hữu tình đều được hình thành từ 4 chất cơ bản: đất, nước, lửa và gió thường gọi là “tứ đại”. Gió ở đây chính là Khí. Để hiểu được Khí đại thì chúng ta cần quan sát các hiện tượng của con người lúc sinh và lúc tử. Lúc ở trong bụng mẹ thì hài nhi chỉ có 3 đại là: đất, nước và lửa. Lúc hài nhi chui từ bụng mẹ ra thì Khí bắt đầu kết hợp với ba đại kia khiến cho nó cảm thấy khó chịu và phải bật khóc, đồng thời Khí “thổi” cho nó lớn lên trông thấy. Hẳn ai có mặt lúc hài nhi chào đời đều biết điều này. Tất nhiên đây là Hậu thiên khí còn Tiên thiên khí đã có khi hình thành thai nhi. Đến lúc chết thì Khí đại lại là thành phần phân ly đầu tiên khiến cho người hấp hối cử động khó khăn dần, rồi đến hỏa đại ra đi khiến thân thể lạnh dần, tiếp theo là thủy đại chảy ra khiến cho thân xác teo tóp rất nhanh và địa đại thì phân ly lâu hơn.
Vậy thì những bậc cao tăng đắc đạo sau khi hóa để lại nhục thân bất hoại như: Lục tổ Huệ Năng, Vô Hà Đại Sư… ở Trung Quốc và hai anh em thiền sư Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường… ở Việt Nam thì sao? Câu hỏi lớn này phải chăng chỉ có khoa học mới giải thích được? Có giải thích được hay không thì chúng ta cũng nhận thấy một điều: có quả vị “Niết bàn” bất sinh, bất diệt và giáo lý Đạo Phật đã đúng, ít nhất là đến thời điểm hiện nay như lựa chọn duy nhất về tôn giáo của nhà bác học Anh Xtanh. Khí thường vận hành khắp nơi trong cơ thể, thường được gọi là khí huyết và hình thành nên mạng lưới hệ thống kinh mạch, huyệt đạo và nơi khí ra vào cơ thể gọi là luân xa.
Vậy khí có vai trò gì? Rất nhiều nhưng có thể đề cập ở đây một số vai trò chính. Thứ nhất: Khí vận hành đều khắp trong cơ thể để điều phối và cung cấp năng lượng cho các bộ phận trong cơ thể họat động bình thường giống như mạng lưới điện phân bổ đều khắp trên một quốc gia. Chính vì vậy khi khí mất quân bình hoặc bị bế tắc thì sẽ sinh ra bệnh tật. Việc tìm cách quân bình và điều chỉnh cho khí huyết họat động bình thường là lĩnh vực nghiên cứu của Đông y. Điều đó giải thích vì sao chỉ cần châm cứu thôi mà có thể chữa được rất nhiều bệnh khó mà ngay cả Tây y cũng đang quay về Phương Đông để nghiên cứu vấn đề này. Thứ hai: Sinh khí trong cơ thể có vai trò thanh lọc và bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của các loại tà khí từ bên ngoài. Tà khí có nhiều loại và nhiều màu khác nhau, nhiều nhất là thấp khí mà ở xứ nhiệt đới hầu như ai cũng mắc phải. Các loại tà khí độc hơn thì có thể gây hại rất lớn như: nặng thì tử vong, liệt các chi, nhẹ thì cảm mà dân gian thường gọi là “trúng gió”. Chính vì vậy, một số thiền sư, khí công không cần châm cứu mà vẫn có thể chữa khỏi bệnh bằng cách trục tà. Thứ ba: Khí còn có vai trờ cung cấp thông tin. Nhờ những thông tin này mà các nhà ngoại cảm, khí công có thể “đọc” được nhiều điều về quá khứ, hiện tại và vị lai của ai đó không hề khó khăn.
Vậy làm thế nào để cảm nhận có khí trong cơ thể? Trừ những người có học các môn “Khí đạo” như: Thiền, Khí công, Yoga, Dưỡng sinh tâm thể… hoặc học Đông y, được châm cứu… thì đa số người bình thường không thể cảm nhận sự có mặt của khí. Rất đơn giản: chỉ cần lấy ngón tay của mình chỉ vào điểm giữa hai lông mày nơi huyệt Ấn đường thì ta sẽ cảm nhận được khí như thế nào vì huyệt ấn đường luôn mở để nội khí trao đổi với môi trường bên ngoài.
2/ Long mạch là gì?
Trái đất cũng có đời sống của riêng nó do có các luồng khí dương ở trên giáng xuống và khí âm ở dưới hướng lên, vận hành liên tục, khắp nơi tạo thành các hệ thống các Long mạch. Mỗi ngôi nhà cũng có Long mạch riêng liên hệ với Long mạch lớn hơn của vùng đó, nước đó… Long mạch có tác dụng cung cấp sinh khí, khống chế tà khí đảm bảo cho sự phát triển của muôn loài, muôn vật. Hiện nay, ở Việt Nam đã có người chế tạo được dụng cụ có thể đo được “tia đất”. Nếu phát triển đề tài này thì có thể đem lại ứng dụng rất lớn cho các lĩnh vực kiến trúc, xây dựng, khai mỏ và sinh hoạt…
3/ Mục đích Cao Biền trấn yểm Long mạch là gì?
Cao Biền cũng như rất nhiều người Phương Bắc thời kì đó đã, đang và sẽ có dã tâm muốn thôn tính Việt Nam. Một trong những cách bí mật và hiệu quả nhất là triệt hạ các long mạch lớn có nhiều vượng khí. Việc trấn yểm tại sông Tô Lịch cũng không nằm ngoài mục đích đó. Vì thành Đại La nằm ngay vị trí rốn rồng (Long Đỗ), nơi hội tụ của nhánh Thanh Long và nhiều nhánh long mạch nhỏ khác nên Cao Biền đã trấn, yểm rất quy mô. Vì đây là vị trí “địa linh” nên rất nhiều triều vua của Việt Nam chọn nơi đây để xây thành và đóng đô. Không chỉ trấn yểm bằng đạo bùa có kèm theo các đồng nam, đồng nữ mà còn chôn sống thêm rất nhiều người có kèm theo vật dụng cúng tế. Dã tâm rất rõ ràng là dùng đạo bùa + “nhân khí” để trấn, yểm long mạch và dùng người tế sống để bảo vệ trận đồ đó. Ngoài trận đồ đã bị phát hiện tại sông Tô Lịch hiện nay thì Cao Biền còn tiến hành trấn, yểm rất nhiều nơi dọc theo nhánh Thanh Long và các nhánh long mạch khác của Việt Nam.
4/ Điều gì khiến cho đạo bùa của Cao Biền phát huy hiệu lực suốt hơn 1.000 năm qua?
Câu hỏi này thú vị nhất và khó nhất từ trước đến nay. Hỏi thế khác nào hỏi “Tại sao Trái đất tự quay quanh trục của nó và quay quanh Mặt trời?”.
5/ Tại sao những người phá trận đồ trấn yểm đó gặp rắc rối?
Như trên đã đề cập thì đạo bùa này do những “vong hồn” được tế sống bảo vệ. Họ được chôn với nghi thức đặc biệt kèm theo đồ cúng tế đầy đủ. Chính vì thế họ đã tìm cách ngăn cản đội 12 phá vỡ đạo bùa.... Nếu đội 12 là những người “am hiểu” thì sự việc đã không gặp rắc rối.......
O--------O0O--------O0O----------O0O----------O
Phim tài liệu "Ngày Lịch Sử" trên VTV1 ngày 3/9/2011 Phim tài liệu "Ngày Lịch Sử" do đạo diễn người Nga Vladimir Echourine ghi lại một cách sống động và chân thực trước, trong và sau ngày lịch sử 1/1/1955. Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập. Và cũng tại nơi đây, ngày 1/1/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ từ kháng chiến trở về ra mắt nhân dân thủ đô Hà Nội. "Thưa toàn thể đồng bào trong nước và ngoài nước, cùng toàn thể bộ đội, cán bộ và nhân viên, sau 8, 9 năm toàn quân và toàn dân ta kháng chiến gian khổ và anh dũng, chính nghĩa đã thắng lợi, chiến tranh đã chấm dứt, hòa bình đã lập lại, chính phủ đã lại về thủ đô", trích bài diễn văn của Bác.




